Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016
Thần Đạo Nhật Bản : Thần đạo, tôn giáo bản địa của Nhật Bản
Shinto (神道) hay còn gọi là Thần đạo, là tôn giáo bản địa của người Nhật. Nó đã ra đời và phát triển rất lâu ở Nhật Bản và ăn sâu vào tiềm thức cũng như trái tim của người dân. Thần đạo có mối quan hệ rất mật thiết với địa lý và lịch sử của Nhật Bản, chính vì vậy nó có nhiều điểm tương đồng với tính cách của người Nhật. Đây là tôn giáo đã định hình văn hóa Nhật Bản cũng như được chính nền văn hóa Nhật Bản định hình. (từ giờ xin được gọi Shinto là Thần đạo để tiện cho bạn đọc theo dõi).
Những người châu Á theo đạo truyền thống thường có thái độ khoan dung và cùng lúc bao gồm nhiều đức tin khác nhau; nói cách khác, con người có thể tin vào và thực hành nhiều tôn giáo khác nhau. Họ không cảm thấy có gì là mâu thuẫn khi vừa theo Thần đạo, vừa theo một đạo khác – thường là Đạo Phật. Trong số 128 triệu dân Nhật Bản thì có 107 triệu xác nhận theo Thần đạo và 89 triệu người theo Đạo Phật ( theo thống kê của Tổng cục văn hóa Nhật Bản – 2006). Theo đó thì gần như tất cả người dân Nhật Bản đều theo đạo và những người theo Thần đạo có vẻ chiếm tỉ lệ nhiều hơn. Số còn lại nhiều người thực hành theo các “Tôn giáo mới”, những tôn giáo du mới du nhập vào Nhật Bản từ thế kỉ 19, bao gồm Đạo Thiên Chúa (3 triệu người), Đạo Hồi (120 000 người) và Do Thái Giáo (2 000 người).
Thần đạo đã gắn liền với Đạo Phật từ hàng thế kỉ, thậm chí còn chia sẻ chung những đền chùa. Người Nhật có câu ” Sinh theo Thần, Chết theo Phật”, cho thấy đức tin của họ vào cả 2 tôn giáo.
Thần đạo là gì ?
Thần đạo, chữ Hán là 神道, nghĩa là “con đường của Thần” (kami no michi). Kami (神) là các linh hồn hay vị thần hiện diện ở khắp mọi nơi. Thần đạo vẫn chưa có một cái tên chính thức cho đến khi Đạo Phật (con đường của Đức Phật) du nhập vào Nhật Bản vào thế kỉ thứ 6 và mọi người thấy cần đặt tên cho Thần đạo để phân biệt. Trước đó, người Nhật chỉ đơn giản làm theo các lễ nghi và đức tin mà họ coi là hiển nhiên trong thế giới mà họ sinh sống.
Thần và linh hồn
Không giống như các tôn giáo khác như Đạo Thiên Chúa, Đạo Hồi hay Do Thái Giáo, những tôn giáo chỉ tin vào một vị thần tối cao, Thần đạo theo lối “đa thần giáo” – nghĩa là có rất nhiều các vị thần. Chữ Shin(神)chỉ nhằm phân biệt giữa con người với những linh hồn/ thần linh mà con người tin vào, chứ không nhằm chỉ một vị thần cụ thể nào. Một số linh hồn trong Thần đạo, ví dụ như Thần Mặt trời Amaterasu, được coi là Thần nhưng hầu hết số còn lại là các linh hồn cùng chung sống với con người. Thế giới trong Thần đạo là một dòng chảy liên tục của sự sáng tạo, từ những linh hồn sống cao tít trên Thiên đàng đến những linh hồn trú ngụ trong cây, đá, bụi và tất cả những gì xung quanh. Tất cả mọi vật đều có linh hồn và có tiếng nói của riêng mình. Con người chẳng qua cũng chỉ là một phần trong dòng chảy đó.
Kami, linh hồn, có ở mọi nơi và bất cứ cái gì hiện hữu đều có thể là kami (Từ giờ xin gọi kami là thần để bạn đọc tiện theo dõi). Những vật tự nhiên như đá, cây cối, núi sông, thác nước, động vật, sấm chớp… tất cả đều có thể là kami, nhất là với những vật hoặc hiện tượng có phần kì lạ và nổi bật. Không phải tất cả các vật tự nhiên đều là thần, nhưng Thần đạo khuyến khích việc tô trọng những vật tự nhiên, vì ngay cả những vật bình thường nhất cũng có thể có các linh hồn trú ngụ bên trong.
Không ai biết ai là người tạo ra Thần đạo và cũng không có những hình tượng trung tâm như Muhammad, Đức Phật hay Chúa Jesus.
Cầu nguyện và Thanh tẩy
Dụng cụ thanh tẩy miệng và tay trước khi thăm đền
Một điểm khác nữa của Thần đạo so với các tôn giáo khác là nó không có kinh thư hay Kinh thánh như Bible, Torah, Guru Granth Sahib hay Quran. Nó chỉ có những câu cầu nguyện, những câu khấn cổ là norito hay norii, đã được truyền miệng từ hàng thế kỉ trước khi được ghi lại lên giấy. Một trong những đức tin của Thần đạo là những từ ngữ lời hay ý đẹp nếu được nói ra đúng lúc đúng chỗ, thì sẽ có thể đem về những kết quả tốt. Những câu cầu nguyện vì vậy thường được các thần chủ (người trông coi đền thờ Thần đạo và hay đứng ra thực hiện các nghi thức trong các buổi lễ) học thuộc lòng và gửi đến các thần tại các đền thờ Thần đạo trong các nghi thức và các lễ hội hằng năm (matsuri).
Mặc dù không có những câu giáo điều, những điều buộc người theo đạo phải trung thành làm theo, Thần đạo đem đến cho những theo đạo những giá trị, chuẩn mực và cách nghĩ mà dần dần thấm sâu vào cuộc sống của người Nhật. Thần đạo đề cao sự sạch sẽ và thanh tẩy. Những nơi đặt các ngôi đền thờ Thần đạo thường có dòng nước chảy qua, như sông hay suối, những người theo đạo sẽ dùng nước ở đó để rửa tay và rửa miệng trước khi đến đền thờ. Lý tưởng của Thần đạo là hướng đến sự tinh khiết và thành thật, những đức tính làm hài lòng các thần.
Thần đạo và Vùng đất Nhật Bản
[Cổng Torii của đền Ootakayama] Đây là Torii, cổng đền thờ Thần. Torii có nghĩa là “điểu cư” (鳥居) – nơi trú của chim, bởi người ta quan niệm chim là sứ giả của thần, bản thân hình dạng cổng đền cũng giống cánh chim đang vươn đến bầu trời. Ngụ ý rằng người đi qua cổng vào đến sắp đến một nơi linh thiêng.
Những tập tục thực hành Thần đạo bắt đầu từ trong những gia đình làm nông hoặc những làng chài, nơi tín ngưỡng đã có từ lâu và gắn liền với vùng đất đó. Chính vì vậy, Thần đạo chưa bao giờ vượt ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản, và Nhật Hoàng luôn được coi là người gìn giữ đức tin vào Thần đạo. Những người theo Thần đạo ở ngoài lãnh thổ Nhật Bản hầu hết là những người sinh ra ở Nhật Bản, mặc dù đã xa quê hương nhưng vẫn gìn giữ và làm theo tôn giáo chính cống của mình. Không như Đạo Thiên chúa hay Đạo Hồi, luôn đi thao giảng và truyền bá tôn giáo của mình, Thần đạo chính tông không hề cử các đại sứ đi rao giảng đức tin hay cố gắng cải đạo người khác, mặc dù ngày nay cũng có những nhóm nhỏ theo Thần đạo khuyến khích người khác cải theo Thần Đạo.
Như một quy luật, người ta không gia nhập Thần đạo theo bất cứ lễ nghi chính thức nào. Người ta sinh ra và lớn lên cùng nó, học cách tự nhận biết theo Thần đạo thì phải như thế nào, cũng giống cách họ nhìn nhận ra gia đình mình, thành phố và vùng đất mình đang sống, đất nước mình sinh ra. Trong suốt cuộc đời, dù họ có coi mình theo đạo hay không đi chăng nữa, những người này quan sát các lễ hội Thần đạo và sẽ tự mình ý thức thực hành Thần đạo.
Sự đa dạng của Thần đạo
Trong suốt lịch sử của Nhật Bản, Thần đạo đã liên tục thay đổi để đáp ứng điều kiện và nhu cầu của những người theo đạo. Khi tôn giáo của Trung Quốc đến Nhật Bản (khoảng năm 200 SCN), Thần đạo có kết hợp một số yếu tố của Đạo giáo và Nho giáo. Từ thế kỉ thứ 6 đến giữa thế kỉ 19, Thần đạo có liên hệ mật thiết với Đạo Phật, đến nỗi nó gần như biến mất trước Đạo Phật. Thần đạo luôn thay đổi và thích nghi tùy vào điều kiện hiện tại và thời gian. Nó vẫn tiếp tục tồn tại đến ngày nay.
Thần đạo quốc gia (国家神道)
Sau hàng thập kỉ bị cái bóng của Phật giáo che phủ, Thần đạo hồi sinh trở lại như một tôn giáo riêng biệt vào cuối những năm 1800 dưới thời Thiên hoàng Minh Trị. Ông khuyến khích theo Thần đạo và sử dụng ngân sách Chính phủ để ủng hộ cho các đền thờ Thần đạo và những người làm lễ, chăm sóc ngôi đền. Mô hình Thần đạo phát triển dưới thời Minh Trị được gọi là Thần đạo quốc gia. Nó nhấn mạnh vào lòng yêu nước và trung thành với Thiên hoàng, như một đấng tối cao đại diện cho các vị Thần. Thần đạo quốc gia kéo dài đến cuối Thế chiến thứ II năm 1945, nước Nhật thua trận đầu hàng và phải bãi bỏ Thần đạo này dưới sức ép của Quân Đồng Minh.
[Đền Ise] Từ lâu Nhật hoàng đã được coi là người bảo vệ đức tin Thần đạo. Cung điện hoàng gia có 3 ngôi đền đặc biệt dành cho Nhật Hoàng. Gia đình của Nhật hoàng cũng duy trì mối liên hệ thường xuyên với Ngôi đền Ise thờ thần Mặt trời Amaterasu, ngôi đền linh thiêng nhất Nhật Bản. Trong các lễ hội, Nhật Hoàng cùng gia đình ghé thăm ngôi đền. Theo truyền thống, người cao niên nhất trong gia đình sẽ làm Thần chủ của ngôi đền và những tuyên bố quan trọng liên quan đến Hoàng gia sẽ được diễn ra ở đây. Phong tục liên hệ giữa Hoàng gia với Thần đạo được gọi là Hoàng Thất Thần Đạo (皇室神道)
Trong khi Thần đạo quốc gia bành trướng dưới thời Minh Trị, thì sự phục hưng của tôn giáo cũng diễn ra trong những tầng lớp những người nông dân. Những người này bắt đầu đi theo những Giáo chủ, những người được coi là vô cùng thông thái khi đã theo học và tiếp thu Thần đạo, Đạo Phật và những tôn giáo bản địa khác. Những Giáo chủ này, được coi là các vị thần sống và những tôn giáo mới mà họ sáng lập ra thu hút rất nhiều người tin theo. Mặc dù những tôn giáo mới này có nhiều nét khác biệt với Thần đạo truyền thống, nhưng vì những điểm tương đồng rất nhiều nên những tôn giáo này còn được gọi là Thần đạo phái ( các giáo phái khác nhau của Thần đạo). Trong số 13 giáo phái đã được nhân diện thì Tenrikyo (天理教) được coi là lớn nhất và nổi tiếng nhất, ngày nay vẫn thu hút người mới tin theo.
Biểu tượng của Tenrikyo
Đền thờ Thần đạo
Các đền thờ Thần đạo mọc lên như nấm sau khi Thế chiến thứ II kết thúc năm 1945, Hiến pháp Nhật Bản cho phép tự do tôn giáo tín ngưỡng và ngăn cản Chính phủ can thiệp ủng hộ Thần đạo như Quốc giáo, Cơ quan lo việc tôn giáo và khuyến khích Thần đạo phát triển cũng bị giải thể.
Tuy nhiên, vẫn có hơn 80 000 Đền thờ Thần đạo được xây dựng trải khắp lãnh thổ Nhật Bản, và sau khi đất nước bại trận trong Chiến tranh, người dân có nhu cầu bày tỏ đức tin cũng như cầu nguyện nhiều hơn. Với mục đích nhằm duy trì các đền thờ này, các Thần chủ và Giáo chủ các giáo phái của Thần đạo cùng bắt tay nhau và lập ra Jinja Honcho (神社本庁)- Hiệp hội quản lý các đền thờ Thần, ngày nay vẫn đứng ra lên lịch cho các lễ hội và bảo tồn các đền thờ Thần.
Jinja Honcho
Thần đạo dân gian (民俗神道)
Nhiều người thực hiện các nghi lễ Thần đạo mà không cần lệ thuộc vào ngôi đền nào trong hệ thống Jinja Honcho. Họ thờ cúng tổ tiên, cầu khấn các vị thần ở địa phương, trong nhà hoặc ngoài đồng ruộng, ở các đền miếu nhỏ. Hình thức này được gọi là Thần đạo dân gian. Chính hình thức này mang những phong tục của Thần đạo từ xa xưa, từ đó mà hình thành nên những tập tục và đức tin của Thần đạo ngày nay.
Trên hết, Thần đạo đề cao yếu tố gia đình. Rất nhiều người thực hành Thần đạo tại nhà, trong nhà luôn luôn có ban thờ hoặc miếu nhỏ thờ một vị thần nào đó và hằng ngày cầu nguyện cũng như thực hiện các nghi thức đơn giản. Trong các lễ hội, thần của các ngôi đền tại địa phương được đặt lên những chiếc kiệu và đi diễu hành khắp thị trấn để đến thăm những nơi được phù hộ. Đây cũng là dịp để người dân trong vùng cùng nhau ăn mừng, liên hoan.
Thần đạo trong đời sống người Nhật
Thần đạo nhấn mạnh và đề cao sự thuần khiết và ngay thẳng. Trẻ con được dạy phải lắng nghe trái tim mình; kính trọng tổ tiên, bậc trên dạy dỗ mình và quý trọng thế giới tự nhiên; tôn kính các thần – những linh hồn đã nuôi nấng và phù hộ cho ta. Đó là tinh thần của Thần đạo
Thần đạo trong Công nghiệp và Giáo dục
Bắt nguồn từ nông thôn, từ thiên nhiên nhưng Thần đạo cũng đã thích nghi với những con người trong xã hội hiện đại. Một số công ty mộ đạo còn xây dựng các đền thờ Thần cho công ty. Các công ty còn thỉnh cầu các thần ở ngoài đồng hoặc gần suối để cầu may mắn và làm ăn phát đạt. Nhiều ngôi đền ở các thành phố lớn còn có một khu vực riêng để thực hiện các nghi lễ đặc biệt, ví dụ như lễ cầu may cho một loại ô tô mới của công ty. Các thần chủ đôi khi còn có mặt để làm lễ trong các lễ động thổ cho việc xây dựng các tòa nhà mới. Vai trò của Thần đạo chỉ đơn giản mang tính hình thức và cầu an. Nó không có vai trò gì trong giáo dục hay vận động công chúng.
Các lễ hội Thần đạo thường có cuộc diễu hành, những thanh niên sẽ vác mikoshi, hay kiệu, đi quanh thành phố. Các vị thần được tin rằng đang trú ngụ bên trong mikoshi. Vì vậy họ sẽ diễu hành kiệu đi đến những nơi thần phù trợ và bảo hộ, cho phép mọi người bày tỏ lòng tôn kính với thần, cầu xin sự may mắn và bình an.
Thiên nhiên và Thần
Ở một đất nước ông nghiệp hóa mạnh mẽ như Nhật Bản, Thần đạo đóng vai trò liên kết con người với thiên nhiên, quý trọng thiên nhiên. Ngành du lịch nhờ thế mà trở nên phát đạt nhờ việc dẫn các du khách đến thăm các đền thờ Thần đạo với xung quanh là những quang cảnh, di sản thiên nhiên gắn liền với câu chuyện về các vị thần.
Theo truyền thuyết, những hòn đảo tươi đẹp của Nhật Bản, những ngọn núi đỉnh phủ tuyết trắng xóa, những bãi cát dát vàng, những thác nước hùng vĩ và thảm thực vật phong phú, đều được tạo ra bởi các vị thần và rồi hóa thân vào các sự vật, hiện tượng và rồi sinh ra con người. Mặc dù một số người Nhật hiện đại miễn cưỡng chấp nhận các đức tin của Thần đạo, nhưng họ vẫn bày tỏ sự kính trọng đối với các thần đã tạo nên thiên nhiên và con người.
Nguồn :http://nipponkiyoshi.com/2014/12/02/shinto-phan-1-than-dao-va-doi-song-nguoi-nhat/
Thần Đạo Nhật Bản : Truyền thuyết về các Vị thần
By Unknown10:01Thần Đạo Nhật Bản : Truyền thuyết về các Vị thần, Văn Hoá, Văn Hoá Nhật Bản
Không có nhận xét nào:
Truyền thuyết về các Vị thần
Truyền thuyết trong Thần đạo rất phong phú, kể về các vị thần trên trời và dưới mặt đất, sự ra đời của đất nước Nhật Bản và vạn vật trên nó. Nó không chỉ giải thích các hiện tượng ngày và đêm dưới màu sắc tôn giáo mà hơn thế còn thiết lập ra những truyền thuyết, sự ra đời của các vị thần và giải thích nguồn gốc thần linh của Hoàng gia Nhật Bản và Thiên hoàng, những người tự coi mình là hậu duệ của Nữ thần mặt trời Amaterasu.
Mặc dù Thần đạo không có những cuốn kinh như Bible hay Quran, vẫn còn tồn tại 2 văn bản cổ ghi lại một số câu chuyện và truyền thuyết từ thế kỉ thứ 8. Vào thời điểm đó, Thiên hoàng Temmu bày tỏ quan ngại rằng những câu chuyện kể ngày xưa về nguồn gốc các vị thần, của Hoàng để hay chính người dân Nhật Bản có thể sẽ bị lãng quên và biến mất. Temmu ra lệnh khôi phục các câu chuyện, truyền thuyết này. Công việc đó được giao cho các người hầu của ông, trong đó có Hiyeda no Are. Một mình bà đã học thuộc lòng 2 sử thi: “Những người kế vị của Hoàng đế” và “Các truyền thống cổ xưa”.
Người kế vị của Temmu, Nữ thiên hoàng Gemmyo, ra lệnh cho những sử thi bằng miệng trên được ghi lại. Cuốn đầu tiên là Kojiki (古事記 – Cổ sự kí), viết năm 712, tập hợp các thần thoại về nguồn gốc của nước Nhật và các vị thần. Cuốn thứ 2 là Nihongi (日本紀 – Nhật Bản kỉ) hayNihon Shoki (日本書紀 – Nhật Bản thư kỉ), hoàn thành vào khoảng năm 720, kể lại nguồn gốc các vị thần của Nhật Bản, cuốn này kế thừa từ Kojiki, tỉ mỉ và chi tiết hơn.
2 cuốn sách này đã chứa nền tảng cho mọi đức tin và nghi lễ của Thần đạo sau này. Các cuốn sách ra đời sau đó, chủ yếu đi sâu vào mô tả chi tiết truyền thuyết về các vj thần. Điển hình là cuốn Engishiki, 10 quyển đầu là tuyển tập các nghi lễ Thần đạo tính được lưu truyền đến năm 927, nhằm kể lại câu chuyện về các thần.
Các phiên bản về truyền thuyết các vị thần trong Thần đạo mỗi sách có viết khác đôi chút (tam sao thất bản). Nhưng về cơ bản , những thông điệp về tốt – xấu, sống – chết mà dân gian muốn truyền đạt thì đều giống nhau. Trước hết, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu truyền thuyết về việc nước Nhật được hình thành và sự ra đời của các vị thần ngự trị Nhật Bản.
Nguồn gốc của nước Nhật
Theo Thần đạo, vũ trụ không có điểm khởi đầu, nó đơn giản là luôn luôn tồn tại. Vào thời gian đầu, Vũ trụ là một Đại dương bất định, bập bềnh và dẹt. Cuối cùng, Đại dương đó tách ra làm 3 phần: Bầu trời – hay là Thiên đàng, Phần giữa – Chính là Trái đất, vẫn bao quanh bởi Đại dương và cuối cùng là Yomi-tsu-kuni, vùng đất của bóng tối hay chính là Địa ngục.
Sau khi vũ trụ được phân chia, 3 vị thần thoát ra khỏi mặt nước và bay đến nơi cao nhất ở trên Thiên đàng. Tại đó, họ đẻ ra các linh hồn và vị thần khác. Sau nhiều thế hệ sinh từng con từng con một, các Thần trên cõi trời bắt đầu sinh theo cặp, 1 trai 1 gái.
Cặp thứ 5 được sinh ra là Izanagi và Izanami, 2 anh em cõi thần có hình dạng giống con người. 2 người này có một sứ mệnh đặc biệt. Các thần cùng thống nhất và cử Izanagi và Izanami xuống cõi trần để quản lý dưới đó. Và thế là họ trở thành những người sinh ra đất nước Nhật Bản.
Izanagi và Izanami đi xuống hạ giới bằng chiếc Cầu Vồng nối giữa Thiên đàng với Đại dương bên dưới. Khi gần chạm nước, đứng trên cầu, Izanagi tuốt kiếm và cắm thẳng xuống Đại dương. Khi rút ra, thứ nước mặn ở Đại dương trào lên, cứng lại, tạo thành đảo Onokoro. Izanagi và Izanami đến lúc đó mới bước ra khỏi Cầu Vồng và đặt chân lên hòn đảo đó, hòn đảo đầu tiên của Nhật Bản.
Izanagi và Izanami kết hôn. 2 người sau đó cùng nhau tạo ra 8 hòn đảo chính của Nhật Bản – Awaji, Shikoku, Oki, Kyushu, Iki, Tsu, Sado, và Oyamato. Izanami cũng sinh ra những vị thần chính, Thần biển Ohowata-tsumi, Thần gió Shima-Tsu-Hiko, Thần rừng Kuku-no-shi, Thần núi Ohoyama-tsumi và nhiều vị thần khác. Izanagi và Izanami đều là cha mẹ của vạn vật địa lý trên đất nước Nhật Bản, từ sông núi hoa lá cỏ cây thác nước cho đến mây gió mưa sấm chớp… Thần gió Shima-Tsu-Hiko ra đời đã thổi đi những đám sương mù che phủ hòn đảo, và lần đầu tiên Izanagi và Izanami có thể nhìn thấy thành quả của mình.

Meoto Iwa ( 夫婦岩 – Đá vợ chồng), nằm ở Vịnh Iso, gần Đền Thờ Lớn ở Ise, tượng trưng cho vợ chồng Izanagi và Izanami, những vị thần đã tạo nên đất nước Nhật Bản
Cái chết của Izanami
Izanami chết ngay sau khi sinh hạ được Thần Lửa Homu-subi. Quá đau buồn và tức giận, Izanagi đã chém chết đứa con nhỏ vừa ra đời, từ những mảnh xác lại sinh ra những linh hồn mới.
Izanagi đã đuổi theo vợ mình tới tận Yomi-tsu-kuni, vùng đất bóng tối. Biết rằng dung nhan đã bị phá hủy bởi cái chết, Izanami trốn khỏi người chồng, chỉ nói với ông từ bóng tối rằng bà đã ăn thức ăn của thế giới bóng tối và vì vậy không thể quay trở về được nữa. Izanagi cầu xin vợ mình quay về mới mình, Izanami đồng ý sẽ cố gắng van nài các linh hồn ở vùng Yomi này có thể chiếu cố cho bà. Tuy nhiên, Izanami bắt Izanagi phải hứa rằng ông sẽ chờ đợi và không được tìm kiếm bà nữa.
Izanagi dần trở nên mất kiên nhẫn và quyết định đi tìm Izanami. Ông đã tìm thấy thân xác đang thối rữa của bà, được canh gác bởi Thần Sấm Raijin (Yakusa no ikazuchi no kami) và các Shikome(Yomotsu-shikome – những Mụ Xấu Xí của Địa Ngục). Tức giận khi thấy Izanagi bội ước, Izanami khóc tức tưởi vì nhục nhã và bị phản bội, và những kẻ đang canh gác cho bà xông lên muốn tấn công. Izanagi chạy trốn, ném gậy vào những kẻ đang đuổi ông để tránh không để bị bắt. Cuối cùng ông đến được cánh cổng đưa ông về hạ giới, sau đó ông ngay lặp tức bịt cái cổng này lại bằng một tảng đá lớn. Điều đó khiến cho những xác chết, những linh hồn người đã khuất mãi mãi không thể quay trở về.
Izanami thét lên đau đớn và thề sẽ trả thù sự phản bội của Izanagi bằng cách giết chết 1000 sinh linh dưới mặt đất mỗi ngày. Izanagi đáp trả lại rằng ông sẽ tạo thêm 1500 sinh linh mỗi ngày và lấp đầy mặt đất. Sự sống sẽ vượt lên những cái chết, và Nhật Bản sẽ trở nên hưng thịnh.
Sự ra đời của Thần Mặt trời Amaterasu
Nữ thần Mặt trời Amaterasu. (天照大御神 “Thiên Chiếu Đại Ngự Thần) Bà được người Cha Izanagi đưa lên làm Nữ thần mặt trời, cai quản Thiên đàng. Ý nghĩa của cái tên Nhật Bản cũng bắt nguồn từ đây – Đất nước mặt trời mọc.
Cảm thấy không sạch sẽ sau khi trở về từ Cõi chết, Izanagi xuống sông Woto tẩy rửa. Từ những mảnh quần áo bỏ lại của ông xuất hiện thêm 12 vị thần mới. Tắm càng lâu, càng nhiều vị thần được sinh ra. Khi Izanagi rửa đến cái mũi của mình, ông sinh ra Thần Bão Tố Susanowo và giao việc cai quản biển cả cho người con này. Khi rửa đến mắt phải, Thần Mặt trăng Tsuki-yomi được sinh ra. Khi rửa con mắt bên trái. Nữ Thần Mặt trời Amaterasu O-Mikami được sinh ra.
Cuốn Nihongi kể lại một phiên bản khác. Trong đó nói rằng Izanagi và Izanami, sau khi sinh ra Đảo Nhật Bản, sông suối, cỏ cây, núi non thì sinh ra Nữ Thần Amaterasu và đưa cô lên trời để cai quản lục đại. Izanami sau đó sinh ra Tsuki-yomi. Thần Mặt trăng và cuối cùng là Thần Bão Tố Susanowo. Nhiều câu chuyện kể rằng Izanami là mẹ của 3 vị Thần trên, mặc dù một số chuyện khác lại nói rằng chính Izanagi mới là người trực tiếp sinh ra họ.
Dưới sự cai quản của Amaterasu, những vị thần trên trời sống ở một vùng Đồng bằng rộng lớn trên Thiên Đàng, có một con sông rất rộng chảy qua mà ngày nay gọi là Ngân Hà. Những vị thần tổ chức các cuộc gặp mặt bên bờ sông và quyết định số phận của con người bên dưới. Đích thân Amaterasu chưa bao giờ xuống thăm hạ giới, thay vào đó là các vị thần dưới quyền và các sứ giả của bà. Một cây cầu nối giữa Thiên đàng và Hạ giới giúp các vị thần có thể di chuyển qua lại giữa 2 vùng. Một hôm, cây cầu sụp đổ, tạo thành một Eo đất (một dải đất hẹp nối hai vùng đất lớn hơn lại với nhau và được bao bọc bởi hai khối nước ở hai bên) ở phía Tây Kyoto.
Xung dột giữa Mặt trời và Bão tố
Anh trai của Amaterasu, thần Bão tố Susanowo là một kẻ ngỗ ngược. Hắn luôn thổi những cơn gió rất mạnh phá hủy các cánh đồng và làm mòn các con núi, hắn làm mọi nơi trở nên náo động và đổ nát vì bị những cơn bão tàn phá. Cuối cùng, Izanagi quyết định sẽ đày hắn xuống Địa ngục cho ở với mẹ (Izanami) nếu không ngừng những hành động phá hoại.
Susanowo xảo trá cuối cùng cũng tỏ ra khuất phục. Hắn cầu xin cha cho đi thăm em gáiAmaterasu trước khi chịu án lưu đày và đã được đồng ý. Biết đến danh tiếng bất hảo của người em, Amaterasu muốn thử độ trung thực của Susanowo. Bà biết rằng các vị thần tối cao như mình có thể tự mình tạo ra các vị thần mới. Thế là bà bắt Susanowo thực hiện một bài kiểm tra. Mỗi người sẽ thi nhau tạo các thần mới và nếu Susanowo tạo ra được một nam thần, Amaterasu sẽ cho phép Susanowo ở lại vương quốc mà bà đang cai quản. Nếu thất bại, tất nhiên Susanowo sẽ đoàn tụ với mẹ dưới Địa ngục.
Đầu tiên Amaterasu bẻ gãy thanh kiếm của Susanowo thành 3 mảnh và nuốt chúng. Sau đó bà phà ra một màn sương, bên trong màn sương là 3 nữ thần. Sau đó bà đưa cho Susanowo tràng hạt trang sức của bà, Susanowo ăn chúng và tạo ra 5 nam thần. Amaterasu công nhậ Susanowo. Bà cho 5 nam thần Susanowo tạo ra làm quen với 3 nữ thần của bà và dẫn Susanowo đến vương quốc của mình.
Không lâu sau khi Susanowo ở tại Vương quốc của em mình, hắn lai “ngựa quen đường cũ” và bắt đầu tác quai tác quái. Một ngày, Susanowo, trong cơn say, Susanowo giẫm nát đồng lúa của Amaterasu, phá hỏng các kênh mương và cho lũ cuốn trôi hoa màu của bà, hắn còn bắt và lột da một con ngựa lang trắng của bà, sau đó ném vào người hầu gái của bà lúc đó đang dệt vải. Người con gái bị chết bởi một thoi cửi buộc bung ra ngoài và đâm xuyên qua người. Sau đó hắn quay về với điệu cười man rợ vang lên không ngớt.
Quá đỗi tức giận và uất ức, Amaterasu tự giam mình vào Thiên Nham Cung (hang trời), lấp kín cửa vào, khiến mặt đất chìm vào bóng tối, các ác thần bắt đầu lũng đoạn hạ giới. Bà tuyên bố hễ ai còn chấp nhận cho Susanowo sống chung thì sẽ ở lì trong Thiên Nham Cung không xuất hiện nữa.
Ánh sáng trở lại
Không ai có thể thuyết phục Amaterasu quay trở về. Các vị thần hết sức lo lắng, bèn tập hợp bên sông Thiên Hà nhằm tìm cách dụ Amaterasu ra ngoài. Vị thần mưu cơ là Taka-mi-misubi nói: “Thường thường nữ thần Amaterasu ló dạng mỗi khi nghe tiếng gà gáy, vậy chúng ta nên buộc chạc, rồi cho những con gà trống thật tốt giọng đậu lên đó thay phiên nhau gáy.” Việc đó được thực hiện ngay, nhưng vô hiệu. Amaterasu vẫn bằn bặt trong cùng thẳm Hang Trời. Thần mưu cơ Taka-mi-misubi lại tìm ra kế gợi trí tò mò của nữ thần Mặt Trời. Thần sai một thần thợ rèn độc nhỡn làm một tấm gương thật sáng, đặt trước Hang Trời và kêu Thần Sức mạnh Tajikara-wo đứng cạnh đó. Trên tấm gương thần có treo những chuỗi ngọc trắng hình cánh cung (Magatama) và những đồ lễ tết bằng chỉ bạch, rồi tất cả hát lễ van vái (norito.) Tuy nhiên cuộc vận động của chư thần chỉ hiệu nghiệm khi nữ thần của Lễ hội và hạnh phúc Amano Uzume xuất hiện và bắt đầu nhảy múa. Amaterasu nghe tiếng chư thần cười vang, động lòng hiếu kỳ mở hé cửa hang. Uzume không xinh đẹp những bù lại có khiếu hài hước và có khả năng chọc cười người khác. Chẳng mấy chốc mà tất cả mọi người đều lăn ra cười. Những tiếng cười náo động phía bên ngoài làm Amaterasu tò mò. Sau cùng, không thể chịu đựng được, bà mở cửa hang hé nhìn ra ngoài.
“Ra mà xem này!”, các vị thần gọi, “Ngoài này có nữ thần còn xinh đẹp hơn cả Amaterasu đấy !”. Amaterasu trông ra và nhìn thấy chính mình tương phản trong gương. Bà bước ra ngoài, vẻ mặt đầy sửng sốt, và ngay lúc đó thần Sức mạnh Tajikara-wo tóm lấy bà. Các vị thần khác nhanh chóng lấy một sợi dây thừng và chặn miệng hang lại để Amaterasu không quay về đó nữa, ánh sáng cuối cùng cũng trở lại thế gian.
Chuỗi ngọc cánh cung Yasakani no Magatama và chiếc gương Yata no Kagami giúp đưa Amaerasu quay về trở thành biểu tượng cho quyền lực của bà và là 2 trong số 3 món bảo vật.)
Tổ tiên người Nhật
Các vị thần trên Thiên đàng quyết định trừng phạt Susanowo vì những hành vi xấc láo. Đầu tiên họ bắt Susanowo giao nộp những đồ vật mà hắn đã dùng cho những hành vi xấu xa của mình. Họ thẳng tay vứt chúng xuống biển, đem theo những ác tâm chứa bên trong. Cho dù Susanowo vẫn có khả năng tạo ra bão lũ, nhưng hắn sẽ không thể đem đến bất cứ rắc rối nào cho Amaterasu cũng như Vương quốc của bà nữa, hắn bị đày xuống Hạ giới và cấm vĩnh viễn không bao giờ được lên Thiên đàng một lần nào nữa. Susanowo đem về mặt đất 8 vị thần mà hắn và em mình đã tạo ra, đáp xuống tỉnh Izumo. Susanowo bắt đầu cảm thấy hối tiếc vì những gì mình đã gây ra và mong muốn lấy lại hình ảnh của mình trong mắt Cha và Chị.
Một hôm, Susanowo bắt gặp một đôi vợ chồng già, có cô con gái rất xinh đẹp, cả 3 đều đang khóc nức nở. Ông lại gần và hỏi tại sao họ khóc và họ trả lời rằng, ngày xưa họ có đến 8 cô con gái xinh đẹp, nhưng một con Mãng xà tám đầu thân có vảy như rồng ( Yamata-no-Orochi – 八岐の大蛇, Bát Kỳ Đại Xà) độc ác xuất hiện, mỗi năm nó đến và bắt mất của 2 ông bà một cô con gái. Đến nay nó đã lấy đi của ông bà 7 cô, và họ sợ rằng năm nay nó sẽ lại đến và bắt nốt người con gái cuối cùng của họ. Susanowo đề nghị được ra tay giết chết con Mãng xà nọ, đổi lại họ phải gả người con gái đó, Kushiinada-hime cho ông.
Susanowo thông minh lấy ra 8 bình rượu sake đầy ự, để tơ hơ ra ngoài để nhử con mãng xà và bảo đôi vợ chồng già cùng cô con gái mau đi trốn. Không lâu sau, nó xuất hiện, quả là một con quái vật rất khủng khiếp, con mãng xà to khổng lồ đến độ thân hình của nó trải dài trên tám ngọn đồi và tám thung lũng, cây và rêu mọc trên da đầy vảy của nó, trông tựa như con rồng. Nó có tám cái đuôi có thể quật tan nát mọi vật, tám cái đầu ghê gớm, mắt đỏ ngầu như những trái anh đào mùa đông, và bụng chứa đầy lửa, 8 cái mồm khạc ra những ngọn lửa nóng rát. Quả như Susanowo tiên liệu, mùi rượu sa kê thơm lừng đã nhử con quái vật đến viếng gia trang, với ánh mắt tham lam, mỗi cái đầu nhanh chóng dúi vào vại sa kê nốc thỏa thuê và chẳng mấy chốc rồng trở nên say nhừ – nằm bất tỉnh trên mặt đất. Ngay sau đó, Susanowo chui ra khỏi nơi ẩn nấp và chặt hết 8 cái đầu, kết liễu sinh mạng của con Mãng xà hung ác. Susanowo mổ bụng con mãng xà ra và bất ngờ tìm thấy bên trong là một Thanh kiếm báu nạm ngọc Kusanagi no Tsurugi. Susanowo liền dâng thanh kiếm đến cho Amaterasu như một lời tạ lỗi cho những hành vi ngày xưa. Amaterasu đồng ý và lưu giữa thanh kiếm như một bảo vật (cùng với chuỗi ngọc Yasakani no Magatama và chiếc gương Yata no Magami, tạo thành Tam Chủng Thần Khí (三種の神器 – Sanshu no Jingi, 3 bảo vật của Nhật Bản) .
Susanowo kết hôn với Kushidana-hime và có rất nhiều con, chúng lớn lên và kết hôn với các vị thần trong vùng, và đó là tổ tiên của người Nhật Bản. Tỉnh Izumo tràn ngập những hậu thế của Susanowo, và trong số đó có Ohu-kuni-nushi, người đã trở thành lãnh chúa cai quản vùng đất Izumo.
Nguồn: http://nipponkiyoshi.com/2014/12/06/shinto-phan-2-truyen-thuyet-ve-cac-vi-than/
Được tạo bởi Blogger.




